Home Giới thiệu

Giới thiệu

dta-e1480092827594

Con đường Đại thủ ấn (Đại ấn – Maha mudra) là một hành trình vĩ đại của nhiều cõi giới và nhiều nền văn minh.

Trước đây và mãi mãi sau này, Đại ấn luôn luôn hấp dẫn chúng ta. Không thể định nghĩa về Đại ấn. Nhưng có thể khái quát được rằng Đại ấn bao gồm quán tâm và năng lực.
Trước Phật giáo, truyền thống Đại ấn đã phát triển. Nhưng chủ yếu là phát triển theo xu hướng tập luyện về năng lực. Vì vậy sự thành tựu của các vị đại thành tựu giả được đánh giá chủ yếu theo các tiêu chuẩn về thần thông.

Từ thời Đức Phật, Đại ấn được tăng cường thêm năng lực của quán tâm và điều đó mới là đối tượng vận động của Đại ấn. Nói chính xác hơn, thay đổi lớn lao là ở về phía người tập. Người thực hành Đại ấn lúc đó đã ý thức được sâu sắc hơn tầm quan trọng của quán tâm và kết hợp nhuần nhuyễn tu tập quán tâm với rèn luyện năng lực.

Tóm lại Đại thủ ấn chịu ảnh hưởng rất tích cực của Phật giáo và trở thành lựa chọn tuyệt diệu cho các Phật tử trong thời điểm khó khăn hiện nay.

Trong một bối cảnh mà ánh sáng của các kỹ thuật quán tâm đã được hiển lộ rõ ràng nơi truyền thống của Đức Phật thì có thể nói chúng ta đang có cơ hội bằng vàng. Dù Đức Phật đã nhập Niết bàn nhưng thông điệp của ngài vẫn nguyên vẹn giá trị thức tỉnh cho tất cả chúng ta.

Trong các tài liệu Phật giáo Nguyên thuỷ có thể tiếp cận rất nhiều các kỹ thuật quán tâm. Tiêu biểu nhất là các kỹ thuật được tổng kết trong Tứ niệm xứ, Bốn đối tượng quán niệm trong đó bao gồm: thân, thọ, tâm, pháp. Trong đó thân là sở thuộc của tâm; thọ là đặc tính của tâm; pháp là đối tượng vận động của tâm… Như vậy cả bốn kỹ thuật đều có bản chất quán xét tâm…

Trong các tài liệu của truyền thống Đại toàn thiện mô tả trạng thái duy trì tính tỉnh giác của tâm với từ chuyên môn là rigpa… Trong các tài liệu Thiền tông thì khái niệm tính thấy, ngộ tính…là từ để trỏ sự thâm nhập cho đến thăng hoa tình trạng quán tâm. Trong Thiền tông Nhật Bản xuất hiện các khái niệm kensho để trỏ sự xâm nhập tính thấy của một hành giả nhập môn và satory để trỏ tình trạng quán tâm hoàn hảo của một trưởng lão thiền…

Trong trường hợp của tôi, tôi phát triển vấn đề quán tâm theo một kỹ thuật kết hợp bao gồm rigpa-bardo. Ở đây lẽ ra cần phải có vài dòng giải thích về tình trạng bardo. Nhưng do khó có thể định nghĩa vài dòng về tình trạng đặc biệt này nên chúng ta có thể tìm hiểu kỹ hơn về khái niệm này trong phần phụ lục. Ngay bây giờ chúng ta có thể hình dung đó là một trạng thái trung gian tạm thời vắng bặt các tư duy tuyến tính phản ảnh qua các giác quan bình thường. Vì vậy vào thời điểm đó tính thấy (rigpa) có cơ hội được hiển lộ. Do tính khẩn cấp của vấn đề nên tôi xin phép không trình bày nội dung Khai ngộ tính thấy trong trạng thái trung gian như một bài viết độc lập mà đưa vào phần phụ lục như quý vị sẽ chứng kiến ngay sau đây….

Thực ra các tài liệu riêng biệt về rigpa hoặc bardo đều đã từng phát lộ. nhưng việc kết hợp các khái niệm và triển khai thực hành nó như một định hướng cho việc quán tâm thì lần đầu tiên được trình bày ở đây. Vì vậy nên tuy bài viết nói trên của tôi khá dài và trúc trắc nhưng tôi cúng xin đề nghị quý vị tiếp cận nó một cách thận trọng! Xin cám ơn quý vị về sự chú tâm!

Song song với vận động quán tâm là con đường trau dồi năng lực. Theo Đại thủ ấn, việc trau dồi năng lực được khái quát trong ba vận động: Khí – Mạch – Hạt. Việc vận động khí (năng lượng – Prana) trong kinh mạch (lung) theo những kỹ thuật cụ thể giúp cho năng lượng được tích tụ và chuyển hoá dẫn đến các hình thức đặc biệt (hạt – thigle) có công dụng chuyển hoá hành giả theo hướng tích cực.

Hệ thống kinh lạc đặc biệt quan trọng được đề cập trong nhiều tài liệu của nhiều truyền thống trong và ngoài Phật giáo là hệ thống kinh mạch trung ương. Có vô vàn nhiều cách vận động năng lực trong hệ thống kinh mạch trung ương tuỳ theo nhu cầu của mỗi hành giả.

Trong trường hợp của tôi, tôi vận động chuyển hoá năng lực trong hệ thống kinh mạch trung ương nhằm mục đích chuyển hoá nghiệp. Thực chất của vấn đề chuyển hoá nghiệp chính là vận động nhân – quả. Nói cách giản dị là tôi dùng kỹ thuật này để chuyển hoá nghiệp của bản thân. Nói cách chính xác hơn là tôi thậm nhập tính không có tự tính của vận động nhân – quả. Qua đó thâm nhập thực tướng của vạn hữu là tính Không. Trên cơ sở đó mà thành tựu hai phương diện : công đức và trí huệ.

Do cách vận động đặc biệt không bị giới hạn bởi các trung tâm năng lượng nên năng lực vận động một cách vô cùng tích cực theo tuyến và sáng chói như mặt trời. Vì vậy đây chính là một loại kỹ thuật chuyển hoá ánh sáng có thể đưa hành giả đạt tới giác ngộ nhanh chóng. Tôi gọi đó là kỹ thuật chuyển hoá nghiệp trong trung mạch bằng kỹ thuật chuyển hoá ánh sáng. Tên khác của kỹ thuật này có thể có tính tượng trưng cao hơn là: giáo pháp một triệu mặt trời.

Kỹ thuật này tôi đã có cơ hội trình bày trong ấn phẩm Cầu vồng (Tụng ca về Đại Ấn) – NXB Văn hóa thông tin – Hà Nội 2008. Phần kỹ thuật bổ sung trình bày dưới dạng ảnh minh hoạ thì nằm trong một tác phẩm khác đang được tôi hoàn thiện và dự định đặt tên là Kỹ thuật chuyển hoá ánh sáng. Xin trân trọng giới thiệu với quý vị!

Tóm lại con đường Đại thủ ấn có thể là một cơ hội tốt và chóng vánh với ai đó trong quý vị. Tham khảo tư liêu trong các truyền thống là rất cần thiết trước khi có một quyết định chính thức. Trong trường hợp của tôi, quý vị đang tiếp cận một sự kết hợp táo bạo và quyết liệt. Nếu quý vị có dự định ứng dụng các kỹ thuật của tôi thì yêu cầu bắt buộc đi kèm là phải tìm đọc và thấu hiểu Cầu vồng trước khi bắt tay vào thực hành.

Xin chân thành cảm ơn quý vị và kính chúc quý vị thân tâm an lạc, giải thoát!
(27.10.2008)

Trích Gửi Lại Trần Gian
Đoàn Hải An